Bình chọn
 

Bạn cho rằng văn học
rất quan trọng

Không quan trọng
Quan trọng
Rất quan trọng

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 14
Lượt truy cập: 847834

Lời giới thiệu

Bi kịch mái trường là cuốn tiểu thuyết đã từng được trao giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật Nghệ Tĩnh. Tác phẩm đã được xuất bản lần đầu vào năm 1991, bẵng đi gần hai mươi năm, nay lại tái xuất. Đó không phải là một sự ngẫu nhiên. Nguyễn Hữu Đàn tâm sự, khi cho tái bản cuốn tiểu thuyết này, anh muốn thể hiện một lòng tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, một lời tri ân với những tháng năm trong nghề dạy học cũng như là một hành động thiết thực nhằm hưởng ứng những chủ trương, phong trào lớn nhằm nâng cao chất lượng của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay.

Tác phẩm đưa người đọc về ngôi trường ở một vùng quê khu bốn. Chắt lọc từ vốn sống phong phú vì từng có nhiều năm gắn bó với bục giảng, Nguyễn Hữu Đàn đã mang đến cho người đọc những trang viết sinh động và và có độ tin cậy cao về hiện thực phản ánh. Tác giả đã xây dựng nên một thế giới nghệ thuật mà trung tâm là các nhân vật với những mối quan hệ công việc, sinh hoạt, tình cảm... ở đó có chuyện chuyên môn giảng dạy, có đời sống vật chất và tinh thần của người giáo viên nông thôn, có tình yêu đôi lứa, tình thầy trò, đồng nghiệp, nhưng nổi bật và ám ảnh nhất vẫn là cuộc đấu tranh giữa những thầy cô giáo có lương tâm trách nhiệm và những kẻ lợi dụng giáo dục để tiến thân.

Tuy nhiên, thay vì đi vào những vấn đề của bức tranh hiện thực giáo dục, ở đây chúng tôi muốn đề cập đôi nét về những thành công ở phương diện nghệ thuật mà tác giả Nguyễn Hữu Đàn đã đạt được qua những trang viết của mình. Trước hết, đó là việc sử dụng chất giọng hài hước trong tác phẩm này.

Khi bắt gặp nhan đề Bi kịch mái trường nhiều bạn đọc có thể ái ngại bởi ấn tượng có phần hơi đen tối, ảm đạm mà nó gây nên. Tuy nhiên, khi đọc vào từng trang tác phẩm, ấn tượng đó bị xua tan bởi giọng văn kể chuyện khôi hài của tác giả cộng với những chi tiết gây cười từ các nhân vật. Phản ánh một thực trạng đáng báo động của ngành giáo dục không phải bằng một giọng điệu nặng nề, bức bối mà nhẹ nhàng đôi khi giễu nhại nhưng rất có hiệu quả nghệ thuật. Chuyện Bí thư tỉnh uỷ giao nhiệm vụ cho vị hiệu trưởng chuyên báo cáo láo Đậu Phụng Quốc: “Có hai cái anh phải gắng làm... là danh hiệu anh hùng... và tấm bằng tiến sĩ, ngay trên mảnh đất này”. Chuyện một cán bộ quản lí giáo dục đánh giá về ngôi trường với những phong trào nặng về bề nổi, chất lượng dạy học xuống cấp trầm trọng là: “Một thí điểm đầu tiên mang ý nghĩa nhân loại”. Chuyện từ trường Đại Thắng đã đúc kết được nhiều “nguyên lý Giáo dục của thời đại” như: “Sản xuất là khoá, văn hoá là chìa”, “Ngọn cờ cho khắp nơi, kể cả Quốc tế nhìn vào”... Bi kịch mái trường, bởi thế, có dáng dấp của một cuốn tiểu thuyết hoạt kê. Nói cách khác, Bi kịch mái trường còn có thể gọi là Bi hài kịch mái trường.

Theo chúng tôi, đây là một điểm sáng về phương diện nghệ thuật của tác phẩm. Vì sao thế? Bởi hài hước, giễu nhại là đặc điểm nguyên thuỷ của thể loại tiểu thuyết. Nhà tiểu thuyết hàng đầu thế giới đương đại cũng đồng thời là nhà nghiên cứu văn học uyên bác Milan Kundera trong công trình Tiểu luận của mình đã đưa ra giả thuyết về khởi nguồn của tiểu thuyết, ấy là sự hài hước, sự vui vẻ, sự bất ngờ, ngẫu nhiên. Đó là mục đích, là mong muốn mà những nhà tiểu thuyết đầu tiên như Cervantès đã gửi gắm trong từng trang viết về anh chàng Don Quixote. Milan Kundera còn viện dẫn ý kiến của Octavio Paz, rằng hài hước “là phát minh lớn của thời hiện đại. Ý tưởng cơ bản: hài hước không phải là một thói quen từ thượng cổ của con người; đó là một phát minh gắn liền với sự ra đời của tiểu thuyết. Như vậy hài hước không phải là cái cười, sự chế giễu, châm biếm, mà là một loại đặc biệt của cái hài, mà Paz nói rằng (đây là chìa khoá để hiểu bản chất của hài hước) nó khiến “bất cứ cái gì nó chạm đến đều trở thành nhập nhằng nước đôi”.”.

Đúng vậy, cái hài hước ở Bi kịch mái trường luôn khiến các hình tượng phản diện được biểu hiện theo lối hai mặt. Một mặt rất đạo đức, lí tưởng như nội dung lời nói, phát ngôn của họ. Nhưng mặt khác, luôn lồ lộ đằng sau những lời nói, việc làm của họ là một động cơ xấu xa, đê tiện. Cái hài khiến thói tật, dã tâm của họ không cần ai bình luận thêm, vẫn tự được bộc lộ một cách vô cùng sâu sắc. Người đọc có thể bắt gặp rất nhiều những chi tiết như thế trong tác phẩm. Chẳng hạn, chỉ cần một lần nghe lời khoác lác đến lố bịch của Đậu Phụng Quốc đã có thể đọc được rất rõ về bản chất của con người này: “A hèm, để tiếp thu kiến thức mới ngày càng cao, - thầy lật nhanh cuốn sổ dày đặc những chữ là chữ, cả số liệu và hình vẽ nữa, y như trận đồ bát quái. - Đêm nào tôi cũng chong đèn dưới hầm học và nghiên cứu đến mười hai giờ đêm. Có hôm nghe kẻng báo mới biết trời đã sáng... (...) Và gieo giống nào thì gặt quả ấy! Những bài toán khó của thế giới tôi đã trao đổi và lần mò hướng giải quyết. Có bài người ta theo phương pháp hình học không xong. Nay tôi giải được bằng cả phương pháp đại số, tắp lự”.

Bên cạnh việc sử dụng một cách đắc địa giọng điệu hài hước, không thể không nói đến sự vận dụng khá nhuần nhuyễn một nguyên lí nghệ thuật tiểu thuyết của tác giả. Đó là nhân vật trung tâm của tác phẩm được thể hiện trong dạng quá trình. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại khi nói về sự khác nhau về tiểu thuyết và truyện ngắn cho rằng, truyện ngắn thể hiện tính cách con người trong một phút  sáng chói, tiểu thuyết mô tả tính cách ở dạng quá trình. Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tiểu luận Bên lề tiểu thuyết cũng cho rằng nhà tiểu thuyết nên đào sâu vào bản chất con người, miêu tả được con người trong quá trình biến chuyển. Ông viết: “Tôi nghĩ rằng, văn học sở dĩ lợi hại là vì nó vẽ ra sự vật trong cái dạng quá trình. Nếu có một nhà văn viết về chiến tranh nào có thể vẽ nên cuộc đời với tất cả diễn biến tâm lý ngoắt ngoéo và sâu kín của một tên phản bội, khiến cho những người trung thành nhất cũng soi thấy đôi chút tâm tư và hình bóng mình trong đó và rút ra bài học cảnh tỉnh thì tin rằng người đọc sẽ hoan nghênh cuốn tiểu thuyết đó”. Nhân vật trung tâm của cuốn tiểu thuyết là Đậu Phụng Quốc ban đầu đâu phải là người xấu. Anh ta vốn xuất thân từ gia đình nông dân nghèo nhưng chăm học. Dù học hành dở dang, nhưng anh ta vẫn là người có chữ nhất làng. Từ một giáo viên tiểu học a b c anh ta học 7 + 3 rồi chương trình Đại học môn Toán do Sở Giáo dục tổ chức... Giả định con người ban đầu có thể coi là “có chí hướng” ấy được đặt trong một tổ chức tốt, một tổ chức mà người có tâm có tài được trọng dụng, thì ít nhất anh ta cũng trở thành một giáo viên tốt, có ý thức học hỏi nâng cao chuyên môn, chứ không phải là một cán bộ quản lí vô lương tâm, coi khinh chuyên môn chỉ biết lợi dụng phong trào bề nổi để thăng tiến.

Yếu tố gì đã tác động khiến cho con người ấy lại rơi vào một quá trình “biến dị” như vậy? Có lẽ sẽ rất nhiều người cùng chung ý nghĩ với chúng tôi cho rằng cơ chế quản lí cán bộ khi đó đã tất yếu sinh ra một tính cách như Đậu Phụng Quốc. Không có những “bậc đàn anh” đi trước từng thăng tiến bằng thủ đoạn thì chắc chắn anh ta không thể tổng kết được phương châm hành động cho cuộc đời mình rằng: “Đời là phải nói, nói nhiều hơn làm, người ta mới biết công lao cho mình”. Do đó cũng có thể nói Đậu Phụng Quốc có dáng dấp của một nhân vật tiểu thuyết theo chủ nghĩa hiện thực. Anh ta chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh. Bản chất của Đậu Phụng Quốc có ai biết không? Rất nhiều người biết. Không chỉ tập thể giáo viên mà ngay cả những người dân quanh trường cũng hiểu rất rõ về anh ta. Bà mẹ thầy giáo trẻ Trung Cao từng nói với thầy: “Dạo trước, đi Đại hội huyện, mẹ có gặp cố Tấm. (...). Cố ấy bảo vì quyền lợi chung chứ không thì thầy Phụng Quốc bị vạch mặt từ lâu rồi. Làm thì láo, báo cáo lại hay...”. Cấp trên thì sao? Có lẽ họ ở xa nên không biết chăng? Anh ta được Bí thư huyện uỷ ngợi khen “đây là một điển hình”, được các nhà tuyên giáo khẳng định “là một tấm gương tự học”... Tưởng như tất cả cấp trên đều bị anh ta loè bịp, nhưng chỉ bằng một chi tiết nói nhịu của Bí thư tỉnh uỷ, thì người đọc vỡ lẽ, rằng các vị lãnh đạo ấy đã biết tất: “Có thể coi là anh hùng cũng được! (...) Cỡ này chỉ được ào qua Nga năm, bảy tháng là có thể thành giáo sư, tiến sĩ, bác học... chưa biết chừng! Vâng! Tự học là đáng khen rồi! Tốt quá! Viết thư, trao đổi, học hỏi, trong hoàn cảnh này, cả thế giới âu chỉ có thầy Đậu... Phụ này!”.

Vấn đề là tại sao những người dân thường, ngay thẳng thì im lặng vì nghĩ đến “quyền lợi chung”? Còn những vị lãnh đạo thì biết nhưng vì sao vẫn tung hô, tiến cử Đậu Phụng Quốc vào những vị trí quan trọng? Có vị dự định đưa anh ta lên ghế Phó Ban tuyên giáo tỉnh uỷ, nhưng ngành Giáo dục quyết tâm giữ lại để nhân điển hình và đưa vào diện cán bộ nguồn... Và cuối cùng, quả nhiên anh ta đã trở thành Giám đốc Sở. Có lẽ thông điệp cơ bản từ bức tranh hiện thực mà tác giả muốn gửi gắm là ở đây. Đó là hiện thực của một sự lừa dối, lợi dụng để tiến thân mang tính dây chuyền trong một cơ chế quản lí quan liêu. Đậu Phụng Quốc lợi dụng nhà trường, lợi dụng phong trào bề nổi, lợi dụng cơ chế để tiến thân. Cấp trên của Đậu Phụng Quốc lại lợi dụng anh ta vào việc “nhân rộng điển hình”, minh hoạ cho những chủ trương lãnh đạo ấu trĩ nào đó của mình để gây thanh thế...

Vấn đề nữa không kém phần nguy hại ở đây, cho dù tác giả cuốn tiểu thuyết không tập trung phản ánh nhiều, là nhận thức của quần chúng nhân dân về giáo dục. Tại sao họ biết mà không dám vạch trần bộ mặt thật của Đậu Phụng Quốc? Bởi vì “quyền lợi chung” như lời nói của Cố Tấm. Quyền lợi ấy là đến mỗi kì thi tốt nghiệp nhà trường sẽ đứng ra mua chuộc hội đồng coi thi, để con cái họ yên tâm được mảnh bằng tốt nghiệp trung học! Điều này được thể hiện tập trung nhất ở cảnh đám đông phụ huynh học sinh ngang nhiên nhảy vào các phòng thi đưa bài cho thí sinh, gây gổ doạ nạt, lăng mạ những thầy cô giáo tâm huyết muốn ngăn cản... Dường như quần chúng nhân dân cũng đang bị mê muội khi nghĩ về sự học của con em mình.

Vậy còn lại ai là người tỉnh táo, nhận rõ nhất tất cả tấn “bi kịch mái trường”? Đó là những người giáo viên tâm huyết như Trung Cao, như Ngân Xuyên... Họ cũng từng bộc lộ chính kiến, từng đấu tranh, nhưng sự đấu tranh ấy không có người hưởng ứng, không đủ sức mạnh làm thay đổi tình hình, nên cuối cùng tất cả họ đều bất lực chứng kiến thực trạng đau đớn. Thậm chí, có người như cô giáo Nghiêm Linh còn bế tắc, uất hận mà tìm đến cái chết!

Muốn thay đổi giáo dục không thể chỉ với một số ít thầy cô giáo tâm huyết nhưng yếu thế như vậy. Qua cuốn tiểu thuyết này, tác giả như muốn gửi gắm niềm tin, rằng tất cả bạn đọc sẽ đều nhận thấy thật rõ “bi kịch mái trường” để từ đó cùng đồng tâm, hiệp lực làm cho giáo dục tốt hơn, làm cho cuộc đời đẹp hơn.

Muốn thế, mời các bạn cùng đến với câu chuyện của một mái trường vài chục năm về trước...

TS. Nguyễn Văn Tùng

(Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ)

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
Toà soạn Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ
Tầng 10, Toà nhà Trung tâm sáng tạo 3D Việt Nam, đường Nguyễn Phong Sắc kéo dài,
phường Dịch Vọng hậu, Cầu Giấy, Hà Nội
Email: vanhoctt@yahoo.com; vantuoitho@yahoo.com.vn
Bản quyền thuộc về Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ